Kính thưa quý cha và anh chị em giáo dân,
Năm Mục vụ 2026, Bề trên Tổng Giáo phận đã chọn là năm “Canh tân đời sống đức tin trong giáo dục Kitô giáo”. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tới việc canh tân việc dạy và học giáo lý trong các gia đình, giáo xứ và toàn thể Tổng Giáo phận. Theo sự hướng dẫn của Bề Trên giáo phận, Uỷ ban Giáo lý xin giới thiệu đến quý cha và quý cộng đoàn nội dung chương trình Học hỏi Giáo lý năm mục vụ 2026 với chủ đề: “Dạy giáo lý gắn liền với Lời loan báo đầu tiên”.
Đây là chương trình Học hỏi Giáo lý dành cho mọi thành phần dân Chúa, để giúp mọi người trong Tổng Giáo phận: 1) Hiểu rõ bản chất, mục đích, nội dung, định hướng và trách nhiệm dạy và học giáo lý; 2) Áp dụng việc dạy giáo lý gắn liền với Lời loan báo đầu tiên vào học hỏi những nội dung căn bản nhất trong sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo. Qua đó, thúc đẩy mọi người cùng nhau dấn thân canh tân việc dạy và học giáo lý theo định hướng loan báo Tin Mừng, và gắn liền với Lời loan báo đầu tiên (Kerygma).
Kính xin quý cha phổ biến và tổ chức cho các hội đoàn, các giới trưởng thành, giới trẻ, thiếu nhi, giáo lý viên học hỏi trong các xứ họ của quý cha. Tuỳ theo truyền thống giáo xứ và định hướng mục vụ, xin quý cha chủ động tổ chức thi giáo lý theo hình thức phù hợp với giáo xứ quý cha đang phụ trách.
Về việc thi giáo lý cấp giáo hạt và cấp giáo phận sẽ được hướng dẫn và tổ chức theo tính đặc thù của mỗi giới. Năm nay, Uỷ ban Giáo lý sẽ tổ chức thi Giáo lý cho 4 giới: Thiếu nhi, Giới trẻ, Trưởng thành và Giáo lý viên.
Ước mong mọi thành phần dân Chúa trong Tổng Giáo phận đón nhận chương trình học hỏi giáo lý này và ùng nhau hăng say học hỏi. Để việc canh tân đời sống đức tin trong giáo dục Ki-tô giáo, cụ thể là việc dạy và học giáo lý, đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, góp phần củng cố đời sống đức tin, niềm hy vọng và đức ái cho gia đình giáo phận.
Hà Nội, ngày 23 tháng 3 năm 2025
Uỷ ban Giáo lý TGP Hà Nội
TẢI VỀ FILE PDF || FILE WORD TÀI LIỆU GIÁO LÝ
MỤC LỤC
PHẦN I: CANH TÂN VIỆC DẠY GIÁO LÝ
Bài 1: Bản chất và mục đích dạy giáo lý
Bài 2: Nội dung giáo lý – Chúa Giê-su Ki-tô
Bài 3: Dạy giáo lý gắn liền với lời loan báo đầu tiên
Bài 4: Giáo Hội thi hành việc dạy giáo lý
Bài 6: Thiên Chúa yêu con người
Bài 7: Đức Giê-su Ki-tô – tình yêu trọn hảo của Chúa Cha
Bài 8: Chúa Thánh Thần – quà tặng tình yêu
Bài 9: Hội Thánh – cộng đoàn được yêu thương và loan báo Tin Mừng
PHẦN III: CỬ HÀNH MẦU NHIỆM KI-TÔ GIÁO
Bài 10: Phụng vụ – sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa
Bài 11: Bí tích – dấu chỉ tình yêu
Bài 12: Bí tích Rửa Tội – nền tảng đời sống Ki-tô hữu
Bài 13: Bí tích Thánh Thể – nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Hội Thánh
PHẦN IV: SỐNG ĐỨC TIN – CON NGƯỜI MỚI TRONG ĐỨC KI-TÔ
Bài 14: Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự
Bài 15: Yêu thương bản thân mình
Bài 17: Yêu mến ngôi nhà chung
PHẦN V: CẦU NGUYỆN – HIỆP THÔNG THÂN TÌNH VỚI THIÊN CHÚA
Bài 18: Cầu nguyện – tương quan thân tình với Thiên Chúa
Bài 19: Cầu nguyện – cuộc biến đổi nội tâm
***************+++**************
I. DẪN NHẬP
Chương trình Giáo lý Năm mục vụ 2026 với chủ đề “Dạy giáo lý gắn liền với Lời loan báo đầu tiên” nhằm góp phần canh tân việc dạy và học giáo lý theo tinh thần “Canh tân đời sống đức tin trong giáo dục Ki-tô giáo”. Dạy giáo lý gắn liền với Lời loan báo đầu tiên (Kerygma) muốn làm nổi bật lên ý nghĩa của việc dạy giáo lý là làm vang vọng lên và thấm sâu vào tâm hồn tín hữu tình yêu cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô. Tình yêu đó được loan báo trong suốt chiều dài lịch sử của Giáo Hội, đã giúp cho bao tâm hồn được hoán cải và đón nhận đức tin, trở nên người môn đệ Chúa Ki-tô và tiếp tục dấn thân loan báo Tin Mừng.
Dạy giáo lý gắn liền với lời loan báo tiên khởi (Kerygma), nghĩa là loan báo tình yêu cứu độ của Thiên Chúa trước mọi bổn phận luân lý và tôn giáo. Nội dung và cấu trúc mỗi bài học theo định hướng của mục đích dạy giáo lý là gặp gỡ và hiệp thông với Đức Ki-tô. Diễn tiến của bài học sẽ chú tâm tới kinh nghiệm thiêng liêng, kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Giê-su, kinh nghiệm được hiệp thông với Chúa và được biến đổi trong mối tương quan đó.
Nội dung tài liệu học hỏi gồm 5 phần.
Phần I: Canh tân việc dạy giáo lý, đây là phần giới thiệu về bản chất, mục đích (bài 1) và nội dung (bài 2) và trách nhiệm dạy giáo lý (bài 4). Đặc biệt phần này trình bày việc dạy giáo lý gắn liền với Lời loan báo đầu tiên – Kerygma (bài 3), để nhấn mạnh tới trọng tâm của canh tân việc dạy giáo lý: Dạy giáo lý phải gắn liền với việc loan báo Tin Mừng, trong mỗi bài học đều phải làm vang lên tình yêu cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Ki-tô.Bốn phần còn lại trình bày nội dung căn bản nhất của bốn phần trong sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo.
Đức Giê-su Ki-tô là nội dung giáo lý. Dạy Giáo lý là loan báo Đức Giê-su Ki-tô. Nội dung của bốn phần đều nhấn mạnh vào Chúa Giê-su. Đồng thời cũng trình bày tâm tình đáp lại của con người đối với tình yêu Thiên Chúa trong Đức Ki-tô.
Phần II: Chúa Giê-su mạc khải cho biết Thiên Chúa là tình yêu (bài 5), Thiên Chúa yêu con người (bài 6) và tình yêu đó được nên hoàn hảo nơi chính Đức Ki-tô (bài 7), Đấng trao ban Thánh Thần như quà tặng yêu thương cho các Tông đồ (bài 8), Người kêu gọi các môn đệ và thiết lập Hội Thánh, đó là cộng đoàn được quy tụ trong tình yêu, đã tự do đáp lại bằng sự vâng phục đức tin, đã hiệp thông với Chúa và được sai đi tiếp tục loan báo Tin Mừng (bài 9).
Phần III: Chúa Giê-su đang hành động trong phụng vụ và các bí tích để tiếp tục ơn cứu độ con người. Phụng vụ là sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa (bài 10) và các bí tích là dấu chỉ tình yêu của Ngài (bài 11), để khi tham dự cử hành phục vụ, con người được biến đổi (bài 12) và hiệp thông với Thiên Chúa (bài 13).
Phần IV: Chúa Giê-su là Đấng đã sống trọn hảo tình yêu với Chúa Cha và tình yêu cho con người. Người môn đệ chọn và sống theo gương hoàn hảo của Chúa Giê-su. Đó là yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự (bài 14), biết yêu thương chính mình (bài 15), yêu tha nhân (bài 16) và yêu môi trường sống xung quanh (bài 17).
Phần V: Chúa Giê-su là con người cầu nguyện, Ngài sống tương quan thân tình với Chúa Cha trong cầu nguyện. Giống như Người, chúng ta cầu nguyện là sống tương quan thân tình với Thiên Chúa (bài 18) và được biến đổi nội tâm để sống theo thánh ý Chúa (bài 19).
Xuyên suốt chương trình là câu chuyện tình giữa Thiên Chúa và con người. Thiên Chúa là Đấng chủ động đã yêu thương con người trước, đã tạo dựng, và tỏ mình ra cho con người bằng kế hoạch đầy yêu thương trong Đức Giê-su Ki-tô. Con người đón nhận mạc khải và đáp lại bằng sự vâng phục đức tin, hiệp thông với Đức Giê-su, trở nên giống như Người qua cử hành phụng vụ và đời sống đức tin, và rồi đạt tới sự hiệp thông sống động và cá vị trong đời sống cầu nguyện.
Ước mong rằng, chương trình giáo lý: “Dạy giáo lý gắn liền với Lời loan báo đầu tiên” sẽ được đón nhận và áp dụng vào đời sống đức tin của cá nhân cũng như cộng đoàn giáo xứ trong Tổng Giáo phận. Giúp mỗi người nhận thức được bản chất, mục đích, nội dung, định hướng và trách nhiệm dạy và học giáo lý trong đời sống đức tin. Đặc biết, tái khám phá câu chuyện tình giữa Thiên Chúa và Hội Thánh, giữa Thiên Chúa và cá nhân mỗi người. Để sống đức tin chính là viết tiếp câu chuyện tình đó trong chính đời sống hàng ngày của mình và của cộng đoàn.
**********
Phần I
CANH TÂN VIỆC DẠY GIÁO LÝ
BÀI 1. BẢN CHẤT VÀ MỤC ĐÍCH DẠY GIÁO LÝ
1. H. Thiên Chúa khao khát điều gì nhất cho con người?
T. Thiên Chúa khao khát con người nhận biết, yêu mến và sống tương quan thân tình với Chúa, để được thông phần vào hạnh phúc vĩnh cửu trong Ba Ngôi Thiên Chúa.
2. H. Thiên Chúa đã làm gì để con người được hiệp thông với Ngài?
T. Thiên Chúa đã đến gần và tỏ mình ra cho con người trong mọi nơi và mọi thời. Chúa đã tỏ mình cách trọn vẹn qua cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô, để cho con người được giao hoà và thông phần vào hạnh phúc của Thiên Chúa.
3. H. Thiên Chúa đã làm gì để Tin Mừng cứu độ của Ngài được tiếp tục loan truyền cho con người hôm nay?
T. Thiên Chúa đã trao phó sứ mạng loan báo Tin Mừng và giáo dục Đức tin cho Hội Thánh. Để trong Chúa Thánh Thần, ngang qua hoạt động của Hội Thánh, Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô vẫn không ngừng được loan báo và truyền dạy cho con người ở mọi nơi và mọi thời.
4. H. Dạy giáo lý là gì?
T. Dạy giáo lý là làm cho Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô tiếp tục được vang vọng trong tâm hồn con người. Đó là hành động của Thiên Chúa và của Hội Thánh, để tiếp tục giáo dục, đồng hành và huấn luyện người tín hữu trong đức tin và cho đức tin.
5. H. Mục đích của việc dạy giáo lý là gì?
T. Mục đích của việc dạy giáo lý là dẫn đưa người học đến gặp gỡ Đức Ki-tô, nhận biết và yêu mến Người, hiệp thông với Người, được biến đổi nên giống Người và dấn thân loan báo Tin Mừng.
6. H. Nhiệm vụ của việc dạy giáo lý là gì?
T. Nhiệm vụ của việc dạy giáo lý là đào tạo người tín hữu cách toàn diện, trở nên con người biết tuyên xưng đức tin, cử hành đức tin, sống đời sống mới trong Đức Ki-tô, biết cầu nguyện và tham gia vào sứ mạng của Hội Thánh.
************
Bài 2. NỘI DUNG GIÁO LÝ – CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ
1. H. Ai là trung tâm của lịch sử cứu độ và là mạc khải hoàn hảo nhất của Chúa Cha?
T. Chúa Giê-su Ki-tô – Con Thiên Chúa nhập thể làm người là trung tâm của lịch sử cứu độ, là mạc khải trọn vẹn và hoàn hảo nhất của Chúa Cha.
2. H. Chúa Giê-su là mạc khải trọn vẹn và hoàn hảo nhất của Chúa Cha nghĩa là thế nào?
T. Chúa Giê-su là mạc khải trọn vẹn và hoàn nhất của Chúa Cha nghĩa là trọn vẹn cuộc đời Chúa Giê-su là hình ảnh trung thực và là vẻ huy hoàng của Thiên Chúa, là lời mạc khải viên mãn về ơn cứu độ, là tình yêu hoàn hảo và cao cả nhất của Thiên Chúa dành cho mọi người và từng người chúng ta.
3. H. Là mạc khải trọn vẹn và hoàn hảo của Chúa Cha, Chúa Giê-su có vị trí nào đối với giáo lý của Hội Thánh?
T. Chúa Giê-su chính là trung tâm và là nội dung của giáo lý. Người là nội dung và là đối tượng chính yếu của đức tin, là chủ thể hành động trong phụng vụ và các bí tích, là chuẩn mực của đời sống luân lý, là gương mẫu và thầy dạy cầu nguyện.
4. H. Chúa Giê-su giữ vai trò nào trong việc dạy giáo lý?
T. Chúa Giê-su giữ vai trò là trung tâm, chủ thể và mục đích của việc dạy giáo lý. Dạy giáo lý chủ yếu là gặp gỡ Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng đang giảng dạy qua các phát ngôn viên là giáo lý viên, để tỏ bày toàn bộ kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa được thực hiện nơi Người, hầu dẫn đưa người học đến hiệp thông với Người và với Thiên Chúa Ba Ngôi.
5. H. Dạy giáo lý đích thực là giảng dạy về điều gì đó, hay là cuộc gặp gỡ một ai đó?
T. Dạy giáo lý đích thực không phải là dạy những lý thuyết trừu tượng, mà là cuộc gặp gỡ sống động với một Ngôi Vị là Chúa Giê-su Ki-tô, để tin vào Người và được hiệp thông với Người.
**************
Bài 3: DẠY GIÁO LÝ GẮN LIỀN VỚI LỜI LOAN BÁO ĐẦU TIÊN
1. H. Kerygma là gì?
T. Kerygma làlời loan báo đầu tiên và cốt lõi nhất về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giê-su, Đấng được Thiên Chúa sai đến, đã chết trên thập giá nhưng đã sống lại đúng như lời Kinh Thánh. Các Tông đồ đã gặp và làm chứng về Người, để ai sám hối và tin vào Người thì được cứu độ.
2. H. Lời loan báo đầu tiên được thực hiện thế nào?
T. Lời loan báo đầu tiên được chính Đức Giê-su công bố về sự hiện diện của Nước Thiên Chúa nơi Người và kêu gọi sám hối, được các Tông đồ làm chứng và khẳng định: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, Người đã được mai táng, và đã sống lại đúng như lời Kinh Thánh.
3. H. Kerygma có tầm quan trọng thế nào?
T. Theo Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Kerygma là ngọn lửa Chúa Thánh Thần, là trọng tâm của mọi hoạt động loan báo Tin Mừng và cố gắng canh tân của Hội Thánh. Kerygma không chỉ trước tiên về thời gian mà còn quan trọng nhất trong mọi tiến trình dạy giáo lý, giúp gặp gỡ thân tình Đức Giê-su Ki-tô và thông truyền lòng thương xót vô biên của Chúa Cha.
4. H. Dạy giáo lý gắn liền với Lời loan báo đầu tiên là thế nào?
T. Dạy giáo lý gắn liền với Lời loan báo đầu tiênnghĩa là không giới hạn vào việc truyền đạt giáo thuyết khô khan, nhưng chứa đựng và làm vang vọng lời công bố tình yêu cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Giê-su Ki-tô. Lời loan báo đầu tiên không chỉ mở đầu rồi bị bỏ qua, nhưng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi cấp độ dạy giáo lý.
5. H. Giáo lý viên phải làm sao để dạy giáo lý gắn liền với lời loan báo đầu tiên?
T. Giáo lý viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức, nhưng phải là chứng nhân đức tin và người đồng hành. Cuộc sống và môi miệng giáo lý viên phải không ngừng vang lên lời rao giảng đầu tiên: “Đức Giê-su Ki-tô yêu bạn; Ngài hiến mạng sống mình để cứu bạn; và bây giờ Ngài đang sống bên cạnh bạn mỗi ngày để soi sáng, ban sức mạnh và giải thoát bạn” (EG, 164).
6. H. Đâu là phong cách truyền dạy giáo lý gắn liền với lời loan báo đầu tiên?
T. Đó là phong cách loan báo tình yêu cứu độ của Thiên Chúa trước, rồi mới nói tới các bổn phận luân lý. Dẫn đưa người học gặp gỡ Đức Ki-tô trước, rồi mới giải thích về các giáo huấn của Người. Giúp người học cảm nhận được yêu thương trước, để được biến đổi nên giống Chúa Ki-tô, hầu sẵn sàng thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng.
****************
Bài 4: GIÁO HỘI THI HÀNH VIỆC DẠY GIÁO LÝ
1. H. Dạy giáo lý là trách nhiệm của ai?
T. Dạy giáo lý là trách nhiệm của mọi thành phần trong Hội Thánh. Xuất phát từ lệnh truyền của Chúa Giê-su, mọi tín hữu phải ý thức dạy giáo lý là một trong sứ vụ chính của mình và không ngừng dốc hết tâm lực để thi hành.
2. H. Hội Thánh có trách nhiệm dạy giáo lý trong những môi trường nào?
T. Hội Thánh dùng mọi phương tiện và cơ hội để loan báo Tin Mừng và truyền dạy giáo lý cho mọi người trong những môi trường khác nhau, nhất là trong cộng đoàn giáo xứ, trong gia đình, trường học, và không gian kỹ thuật số.
3. H. Giám mục có trách nhiệm dạy giáo lý như thế nào?
T. Giám mục là những thầy dạy đức tin, là giáo lý viên đích thực nhất, có trách nhiệm chính yếu trong việc dạy giáo lý, phải tận tâm nhiệt thành rao giảng cho dân được trao phó cho ngài những điều phải tin, phải cử hành và phải sống.
4. H. Linh mục có trách nhiệm dạy giáo lý như thế nào?
T. Linh mục là giáo lý viên đầu tiên trong cộng đoàn giáo xứ, có trách nhiệm cung ứng, làm sống động, điều phối và hướng dẫn hoạt động dạy giáo lý của cộng đoàn đã được trao phó cho mình. Linh mục không được để các tín hữu thiếu hụt việc học giáo lý vì bất cứ lý do gì.
5. H. Giáo dân có trách nhiệm dạy giáo lý như thế nào?
T. Giáo dân là những người làm chứng cho Tin Mừng giữa xã hội trần thế bằng chính đời sống là môn đệ Chúa Ki-tô. Họ được kêu gọi là giáo lý viên phục vụ việc dạy giáo lý, để gieo trồng đức tin, phát triển và thăng tiến đời sống người tín hữu, góp phần phát triển Hội Thánh.
6. H. Cha mẹ có bổn phận thế nào trong việc dạy giáo lý cho con?
T. Cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên, chính yếu và không thể thay thế trong việc dạy giáo lý cho con. Họ có bổn phận loan báo Tin Mừng và giáo dục đức tin cho con ngay từ tuổi thơ ấu bằng chứng tá đời sống của họ.
7. H. Các tu sĩ và những người sống đời thánh hiến có trách nhiệm thế nào trong việc dạy giáo lý?
T. Họ là những chứng nhân sống động về sự hiện diện của Nước Thiên Chúa qua đời sống khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục. Họ được mời gọi nhiệt thành tham gia vào hoạt động dạy giáo lý tùy theo đặc sủng của hội dòng, dành hết khả năng và phương tiện cho hoạt động này.
8. H. Cộng đoàn giáo xứ có trách nhiệm dạy giáo lý như thế nào?
T. Cộng đoàn giáo xứ là nguồn gốc, không gian và mục tiêu của việc dạy giáo lý, là nơi phát sinh việc loan báo Tin Mừng. Do đó, cả cộng đoàn phải tham gia vào việc dạy và học giáo lý, bằng cách tham gia cầu nguyện, gặp gỡ, nêu gương, đồng hành, và cùng giúp nhau sống và lớn lên trong đức tin.
***************
Phần II
TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN
Bài 5. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU
1. H. Thiên Chúa đã tự mạc khải Ngài là Đấng nào?
T. Thiên Chúa đã tự mạc khải Ngài là Đấng Hiện hữu, giàu nhân nghĩa và thành tín, là Chân lý và là Tình yêu.
2. H. Tình yêu là bản chất hay là thuộc tính của Thiên Chúa?
T. Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa, vì chính Ngài đã mạc khải điều bí ẩn thâm sâu nhất, đó là sự trao đổi tình yêu vĩnh cửu: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và Ngài đã tiền định cho chúng ta được dự phần vào sự trao đổi tình yêu đó.
3. H. Thiên Chúa đã tỏ mình cho chúng ta biết mầu nhiệm nào về chính Ngài, để giúp chúng ta nhận biết chính Hữu thể Ngài là tình yêu?
T. Thiên Chúa đã tỏ mình cho chúng ta biết Ngài không phải là một Thiên Chúa đơn độc, nhưng là Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi tuy riêng biệt, nhưng cùng một bản thể và một uy quyền như nhau.
4. H. Nhờ đâu chúng ta biết được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi?
T. Nhờ Chúa Giê-su mạc khải mà chúng ta biết được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi (x. Mt 28,19).
5. H. Chúa Giê-su mạc khải cho chúng ta biết Chúa Cha là Đấng nào?
T. Chúa Giê-su mạc khải cho chúng ta biết Chúa Cha là Đấng dựng nên vũ trụ và con người, nhưng trên hết, Chúa Cha đã sinh ra Chúa Con từ thuở đời đời.
6. H. Chúa Giê-su mạc khải cho chúng ta biết Chúa Thánh Thần là Đấng nào?
T. Chúa Giê-su mạc khải cho chúng ta biết Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa Ngôi Ba, là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con, và là Đấng hướng dẫn Hội Thánh đến chân lý vẹn toàn.
7. H. Thiên Chúa tỏ cho chúng ta biết mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi để làm gì?
T. Thiên Chúa tỏ cho chúng ta biết mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, để mời gọi chúng ta thông phần vào sự sống của chính Ba Ngôi Thiên Chúa, đồng thời góp phần làm cho gia đình, dân tộc và Hội Thánh thành cộng đoàn hiệp thông theo khuôn mẫu Thiên Chúa Ba Ngôi.
***************
Bài 6. THIÊN CHÚA YÊU CON NGƯỜI
1. H. Thiên Chúa biểu lộ tình yêu cho con người thế nào?
T. Thiên Chúa biểu lộ tình yêu cho con người bằng kế hoạch yêu thương từ thuở đời đời, là thông truyền hạnh phúc của Ngài cho con người. Đó là kế hoạch làm cho con người được trở nên nghĩa tử trong Đức Giê-su Ki-tô và được nên đồng hình đồng dạng với Người.
2. H. Thiên Chúa yêu thương con người qua việc tạo dựng là thế nào?
T. Thiên Chúa, Đấng vô cùng hoàn hảo và hạnh phúc, hoàn toàn do tình yêu và sự tốt lành, đã tạo dựng con người giống hình ảnh Thiên Chúa, để cho họ được thông phần sự sống hạnh phúc của Ngài.
3. H. Thiên Chúa biểu lộ tình yêu qua sự quan phòng và chăm sóc thế nào?
T. Ngài quan tâm tới tất cả mọi sự và mọi biến cố của trần gian. Ngài vừa cho con người được hiện hữu, vừa gìn giữ, vừa cho cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa, để hướng dẫn các hoạt động giúp con người đạt tới sự hoàn hảo như Chúa đã thiết định cho con người.
4. H. Thiên Chúa yêu thương con người qua việc mạc khải chính mình thế nào?
T. Thiên Chúa không ngừng thông truyền chính mình cho con người trong suốt lịch sử cứu độ, bằng tình yêu lớn hơn tội lỗi và sự bất trung của con người. Được thực hiện cách đầy đủ và trọn vẹn nơi Đức Giê-su Ki-tô. Để trong Người, con người được hiệp thông với Thiên Chúa và được thông phần hạnh phúc vĩnh cửu.
5. H. Tình yêu cứu chuộc và đưa tới sự sống vĩnh cửu được biểu lộ thế nào?
T. Được biểu lộ cách trọn vẹn trong Đức Giê-su Ki-tô. Đấng đã mặc lấy thân phận con người, chịu chết và sống lại, để ban ơn cứu chuộc, và cho những ai đón nhận ơn tha thứ và tin vào tình yêu của Thiên Chúa thì được sống đời sống mới trong Đức Ki-tô.
6. H. Tình yêu Thiên Chúa đem lại cho con người điều gì?
T. Tình yêu Thiên Chúa làm cho con người được hiện hữu, được tha thứ, được trở nên con Thiên Chúa, nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô, được no thoả hạnh phúc và sống đời đời.
******************
Bài 7. ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ – TÌNH YÊU TRỌN HẢO CỦA CHÚA CHA
1. H. Chúa Giê-su đã thực hiện kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa cho con người như thế nào?
T. Chúa Giê-su là Thiên Chúa thật và là người thật. Người đã nhập thể làm người, chịu chết và sống lại, để mạc khải trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa và ơn cứu chuộc đối với nhân loại, để chúng ta sống theo gương Người, và nhờ Người mà được làm con Thiên Chúa.
2. H. Chúa Giê-su đã biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa đối với con người qua mầu nhiệm nhập thể và đời sống ẩn dật như thế nào?
T. Người đã mặc lấy trọn vẹn thân phận con người bé nhỏ và khó nghèo, để lấy cái nghèo của Người mà làm cho chúng ta trở nên giàu có. Đồng thời, Chúa cũng dành ba mươi năm sống ẩn dật trong gia đình Thánh Gia, để nêu gương vâng phục, hiếu thảo và sống hiệp thông với Thiên Chúa trong đời sống thường ngày.
3. H. Chúa Giê-su đã biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc sống công khai thế nào?
T. Người đã hiện diện như là Đấng cứu độ đầy lòng thương xót qua việc loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, tuyển chọn các môn đệ, đi khắp nơi xua trừ ma quỷ, chữa lành bệnh tật, đồng hoá mình với người nghèo, biểu lộ sự gần gũi với người tội lỗi, và dùng các dấu lạ để minh chứng Người là Đấng Mêsia, để kêu gọi mọi người sám hối và tin vào Tin Mừng.
4. H. Đâu là tình yêu cao vời nhất mà Chúa Giê-su đã thực hiện cho nhân loại?
T. Người đã tự nguyện vâng lời cho đến chết và chết trên cây thập giá, để ôm lấy đau khổ nhất của kiếp người là cái chết. Qua đó, Người nâng con người lên và cứu độ con người.
5. H. Chúa Giê-su đã biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa qua mầu nhiệm Vượt Qua thế nào?
T. Trong mầu nhiệm Vượt Qua, Chúa Giê-su đã chết, để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi. Người đã sống lại, để mở đường cho chúng ta tiến vào sự sống mới, sự sống làm con Thiên Chúa.
6. H. Chúa Giê-su đã biểu lộ tình yêu đối với Chúa Cha như thế nào?
T. Chúa Giê-su là con người hoàn hảo, cả cuộc đời Người là tiếng xin vâng tuyệt đối với thánh ý Chúa Cha. Người đã tự nguyện dâng hiến chính mình làm hiến lễ yêu thương dâng lên Chúa Cha và đền tội cho nhân loại.
7. H. Tình yêu hoàn hảo của Chúa Giê-su có ý nghĩa thế nào đối với đời sống mỗi người chúng ta?
T. Đem lại cho chúng ta những điều này:
– Một là ơn cứu chuộc khỏi tội lỗi;
– Hai là cho chúng ta biết mình được yêu thương bằng tình yêu cao cả nhất của Thiên Chúa;
– Ba là cho chúng ta một chuẩn mực hoàn hảo để noi theo;
– Bốn là để chúng ta kết hợp với Người mà trở nên con Thiên Chúa và đồng hình đồng dạng với Người.
*****************
Bài 8. CHÚA THÁNH THẦN – QUÀ TẶNG TÌNH YÊU
1. H. Chúa Thánh Thần là Đấng nào?
T. Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba Thiên Chúa, đồng bản thể với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.
2. H. Chúa Giê-su là Đấng đầy Thánh Thần nghĩa là gì?
T. Nghĩa là Đức Ki-tô, Đấng được xức dầu Thánh Thần, trọn vẹn cuộc sống trần thế của Người, hành động chữa lành và cứu độ, đều xuất phát từ sức mạnh của Chúa Thánh Thần.
3. H. Chúa Giê-su ban Thánh Thần cho các Tông đồ thế nào?
T. Từ nơi Chúa Cha và nguồn sung mãn của Người, Chúa Giê-su đã tuôn đổ cách đầy tràn Thần Khí của Người xuống trên các Tông đồ. Người thổi hơi và ban Thánh Thần cho họ chiều ngày Phục sinh và họ đã lãnh nhận trọn vẹn Thánh Thần vào ngày lễ Ngũ Tuần.
4. H. Chúa Thánh Thần được mạc khải trọn vẹn là một Ngôi Vị thần linh khi nào?
T. Vào ngày lễ Ngũ Tuần, khi các Tông đồ được đầy tràn Thần Khí, thì cũng là lúc Chúa Thánh Thần được biểu lộ, trao ban và thông truyền trọn vẹn với tư cách là một Ngôi Vị thần linh.
5. H. Chúa Thánh Thần là quà tặng tình yêu nghĩa là gì?
T. Nghĩa là tự bản chất Chúa Thánh Thần là tình yêu, được trao ban trong tình yêu tự hiến của Đức Ki-tô, và sinh ra hoa trái là tình yêu cho Hội Thánh.
6. H. Chúa Thánh Thần làm phát sinh hoa trái gì nơi Hội Thánh?
T. Chúa Thánh Thần thánh hoá Hội Thánh, làm phát sinh tình yêu là hoa trái đầu tiên của mọi hoa trái khác, đem lại ơn tha thứ, phục hồi phẩm giá làm con Thiên Chúa, cho ta thông phần vào sự sống của Ba Ngôi Chí Thánh và giúp ta sống yêu thương như Chúa đã yêu thương ta.
******************
Bài 9. HỘI THÁNH – CỘNG ĐOÀN ĐƯỢC YÊU THƯƠNG
VÀ LOAN BÁO TIN MỪNG
1. H. Hội Thánh là gì?
T. Hội Thánh là cộng đoàn được Thiên Chúa yêu thương và quy tụ, đã đáp trả bằng đức tin và lãnh nhận bí tích Rửa Tội, trở nên con Thiên Chúa, chi thể Đức Ki-tô, đền thờ Chúa Thánh Thần và được sai đi loan báo Tin Mừng.
2. H. Hội Thánh là cộng đoàn những người được kêu gọi và quy tụ nghĩa là gì?
T. Nghĩa là cộng đoàn được yêu thương, được Chúa Giê-su thiết lập, sinh ra và thánh hoá bằng tình yêu thập giá, để trở nên dấu chỉ hữu hình của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại.
3. H. Hội Thánh là cộng đoàn những người tin và đáp lại tiếng Chúa kêu gọi là thế nào?
T. Hội Thánh là cộng đoàn những người đã nhận ra tình yêu kêu gọi của Thiên Chúa và tự nguyện đáp lại bằng sự vâng phục của Đức tin, hoàn toàn tín thác cho Thiên Chúa và đón nhận những gì Thiên Chúa mạc khải, lãnh nhận phép Rửa trong Đức Ki-tô và sống đời sống mới trong Người.
4. H. Hội Thánh là cộng đoàn những người được ở lại và biến đổi nên giống Chúa Ki-tô là thế nào?
T. Hội Thánh là cộng đoàn những người được tháp nhập vào Đức Ki-tô nhờ phép Rửa, được tham dự vào sự sống của Người, được biến đổi nên giống Người, như những người con rất yêu dấu, bước đi trong tình yêu, mang lấy những suy nghĩ, lời nói và hành động đã có trong Đức Ki-tô và sống theo gương Người.
5. H. Hội Thánh là cộng đoàn những người được sai đi loan báo Tin Mừng là thế nào?
T. Hội Thánh là cộng đoàn vừa có tính công giáo vừa có tính tông truyền. Nghĩa là vừa có tính phổ quát cho hết mọi người, vừa được sai đi loan báo Tin Mừng, làm cho nhân loại được tham dự vào sự hiệp thông tình yêu vĩnh cửu giữa Ba Ngôi Thiên Chúa.
6. H. Là chi thể trong thân thể Hội Thánh, tôi được mời gọi sống thế nào?
T. Là chi thể trong thân thể Hội Thánh, tôi được Thiên Chúa yêu thương và kêu gọi, tôi đáp lại bằng sự vâng phục của đức tin, tái sinh trong phép Rửa, sống kết hiệp mật thiết với Đức Ki-tô, mang lấy những tâm tình, ý nghĩ và hành động của Người, và theo bậc sống mình, không ngừng dấn thân loan báo Tin Mừng.
****************
Phần III
CỬ HÀNH MẦU NHIỆM KI-TÔ GIÁO
Bài 10. PHỤNG VỤ – SÁNG KIẾN YÊU THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA
1. H. Phụng vụ là gì?
T: Phụng vụ là sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa, là công trình của Chúa Ba Ngôi, là hành động của Đức Ki-tô và Hội Thánh. Trong đó, dân Chúa được tham dự vào công việc của Thiên Chúa, được gặp gỡ thân tình với Đức Ki-tô, được thông hiệp vào cuộc Vượt Qua của Người. Nhờ đó, Thiên Chúa được tôn vinh và con người được thánh hoá.
2. H: Phụng vụ là sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa là thế nào?
T: Phụng vụ không xuất phát từ nhu cầu hay nỗ lực của con người trước, mà bắt nguồn từ khát vọng cháy bỏng của Chúa Giê-su, Đấng muốn tái lập mối hiệp thông với con người, để kiện toàn kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa cho con người mọi nơi và mọi thời.
3. H. Ba Ngôi Thiên Chúa hoạt động trong phụng vụ thế nào?
T. Trong phụng vụ, Chúa Cha là nguồn mạch và cùng đích của mọi lời chúc lành, Chúa Con luôn hiện diện và hoạt động, Chúa Thánh Thần dùng quyền năng để hiện tại hóa mầu nhiệm cứu độ của Đức Ki-tô và kết hợp Hội Thánh vào đời sống và sứ vụ của Người.
4. H. Phụng vụ là cuộc gặp gỡ và hiệp thông sống động với Thiên Chúa là thế nào?
T. Khi tham dự và cử hành phụng vụ, dân Chúa được dự phần vào hành động của Thiên Chúa, được gặp gỡ Đức Ki-tô và ở lại trong tình yêu của Người, được trở nên dấu chỉ hữu hình về sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người.
5. H. Phụng vụ đem lại cho con người điều gì?
T. Phụng vụ giúp tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa con người, cho con người được giải thoát khỏi tội lỗi, được trở nên con Thiên Chúa, được nếm trước niềm vui Thiên Quốc và được bảo đảm sự sống vĩnh cửu mai sau.
6. H. Mỗi tín hữu được mời gọi tham dự phụng vụ thế nào?
T. Là chi thể trong thân thể Đức Ki-tô, mỗi tín hữu được cuốn hút vào sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa trong phụng vụ, để tham dự phụng vụ cách ý thức, tích cực và hữu hiệu.
***************
Bài 11. BÍ TÍCH – DẤU CHỈ TÌNH YÊU
1. H. Bí tích là gì?
T: Bí tích là những dấu chỉ yêu thương hữu hình Chúa Giê-su đã lập và truyền lại cho Hội Thánh cử hành, để diễn tả và thông ban cho chúng ta ân sủng bên trong là sự sống thần linh.
2. Bẩy bí tích là những bí tích nào?
T. Bẩy bí tích là những bí tích này:
– Một là bí tích Rửa Tội;
– Hai là bí tích Thêm Sức;
– Ba là bí tích Thánh Thể;
– Bốn là bí tích Thống Hối;
– Năm là bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân;
– Sáu là bí tích Truyền Chức Thánh;
– Bảy là bí tích Hôn Phối.
3. H. Bí tích là “dấu chỉ tình yêu” nghĩa là thế nào?
T. Bí tích là dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa được diễn tả qua ba khía cạnh này:
– Một là dòng chảy yêu thương tuôn trào từ Trái tim bị đâm thâu của Chúa Giê-su trên thập giá;
– Hai là thể thức yêu thương thiết thực, theo phương thức mầu nhiệm Nhập thể của Chúa Giê-su, để chạm đến con người trọn vẹn cả tinh thần và thể xác;
– Ba là bẩy dấu chỉ tình yêu đồng hành trọn vẹn mọi khía cạnh của kiếp người.
4. H. Trong các bí tích, Chúa Giê-su tiếp tục yêu thương theo phương thức mầu nhiệm Nhập thể là thế nào?
T. Trong các bí tích, Chúa Giê-su tiếp tục mầu nhiệm nhập thể qua việc Người dùng những dấu chỉ hữu hình để trao ban ân sủng vô hình. Qua đó, Người biểu lộ sự thấu hiểu phận người, hiện diện sống động với con người, để ở lại, ôm lấy, chữa lành và dưỡng nuôi con người.
5. H. Các bí tích Khai tâm đem lại cho chúng ta điều gì?
T. Các bí tích Khai tâm đặt nền tảng cho đời sống Ki-tô hữu: Rửa tội tái sinh ta làm con Thiên Chúa, Thêm sức trao ban Thánh Thần để ta sống chứng nhân, và Thánh Thể là chóp đỉnh và nguồn mạch nuôi dưỡng ta bằng chính Thịt Máu Chúa.
6. H. Các bí tích Chữa lành đem lại cho chúng ta điều gì?
T. Các bí tích Chữa lành là phương thuốc chữa lành những vết thương của phận người: Thống hối tha thứ và giao hoà ta với Chúa và Hội Thánh; Xức Dầu bệnh nhân ban sức mạnh, nâng đỡ, an ủi và chữa lành ta trong khi đau khổ bệnh tật và chuẩn bị ta cho cuộc vượt qua cuối cùng.
7. H. Các bí tích Phục vụ đem lại cho chúng ta điều gì?
T. Các bí tích Phục vụ là cách Chúa mời gọi chúng ta trao ban tình yêu: Truyền chức thánh trao quyền năng để các mục tử trở thành hiện thân của Chúa mà rao giảng, thánh hoá và phục vụ cộng đoàn; Hôn phối thánh hóa tình yêu lứa đôi thành dấu chỉ hữu hiệu của giao ước giữa Đức Ki-tô và Hội Thánh, để giúp nhau nên thánh trong hôn nhân.
8. H. Người tín hữu được mời gọi đón nhận các bí tích với tâm tình nào?
T. Người tín hữu được mời gọi đón nhận các bí tích với sự ngỡ ngàng thán phục trước tình yêu quá lớn lao của Thiên Chúa và siêng năng đón nhận bí tích như đến với dòng suối ân sủng, để được Chúa ôm ấp, chữa lành và biến đổi mỗi ngày nên giống Chúa hơn.
*****************
Bài 12. BÍ TÍCH RỬA TỘI – NỀN TẢNG ĐỜI SỐNG Ki-tô HỮU
1. H. Bí tích Rửa tội là gì?
T. Là bí tích Chúa Giê-su đã lập, để làm cho chúng ta được sinh lại trong đời sống mới bởi nước và Thánh Thần.
2. H. Bí tích Rửa tội tuôn trào từ trái tim bị đâm thâu của Chúa Giê-su có ý nghĩa gì?
T. Có nghĩa là bí tích Rửa tội như một món quà cần thiết nhất phát sinh từ tình yêu cao cả của Chúa Giê-su trên thập giá.
3. H. Khi được Rửa tội là được dìm mình trong tình yêu Thiên Chúa nghĩa là gì?
T. Nghĩa là người lãnh nhận được dìm vào trong Đức Ki-tô, trong sự chết và sống lại của Người, để được chết đi cho tội lỗi và sống lại làm con người mới trong Đức Ki-tô.
4. H. Nghi thức chính yếu của bí tích Rửa tội được cử hành thế nào?
T. Nghi thức chính yếu của Bí tích Rửa tội được cử hành thế này: Thừa tác viên vừa đổ nước trên đầu người lãnh nhận, vừa gọi tên người đó và đọc “Tôi rửa anh, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.
5. H. Người đến tuổi khôn muốn lãnh nhận bí tích Rửa tội cần những điều kiện nào?
T.Để lãnh nhận bí tích Rửa tội, người đến tuổi khôn cần có những điều kiện này:
– Một là chưa lãnh nhận bí tích này bao giờ;
– Hai là đón nhận Tin Mừng, hoán cải, và trải qua giai đoạn huấn luyện toàn bộ đời sống Ki-tô giáo;
– Ba là tuyên xưng đức tin và tham dự các nghi thức chuẩn bị lãnh nhận bí tích Khai tâm Ki-tô giáo.
6. H. Bí tích Rửa tội đem lại cho ta những điều gì?
T. Bí tích Rửa tội ban cho ta những điều này:
– Một là được tha tội nguyên tổ và các tội riêng đã phạm;
– Hai là được làm con Thiên Chúa;
– Ba là được tháp nhập vào Đức Ki-tô và Hội Thánh;
– Bốn là được ghi một dấu ấn thiêng liêng trong linh hồn không bao giờ xóa được.
7. H. Bí tích rửa tội có ý nghĩa thế nào với đời sống Ki-tô hữu?
T. Bí tích Rửa tội là nền tảng của toàn bộ đời sống Ki-tô hữu, là cánh cửa vào đời sống thánh thiêng, giúp tín hữu sống trọn vẹn ơn gọi là con Thiên Chúa, nên thánh và trung thành thực thi ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế; và không ngừng dấn thân xây dựng Hội Thánh với tinh thần đồng trách nhiệm.
*******************
Bài 13. BÍ TÍCH THÁNH THỂ
NGUỒN MẠCH VÀ CHÓP ĐỈNH CỦA ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH
1. H. Bí tích Thánh Thể là gì?
T. Là bí tích Chúa Giê-su đã lập, để tiếp tục hy lễ Vượt Qua của Người và ban Mình Máu Người làm của ăn nuôi sống chúng ta.
2. H. Chúa Giê-su đã lập bí tích Thánh Thể thế nào?
T. Trong bữa ăn Tiệc ly, khi tự nguyện nộp mình chịu khổ hình, Chúa Giê-su cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà nói: “Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: vì này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”. Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén rượu, cũng tạ ơn, trao cho các môn đệ mà nói: “Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống: vì này là chén Máu Thầy, Máu Giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Kinh nguyện Thánh Thể II).
3. H. Bí tích Thánh Thể được cử hành thế nào?
T. Bí tích Thánh Thể được cử hành trong Thánh lễ, gồm hai phần chính và làm thành một cử hành phụng vụ duy nhất:
– Một là phụng vụ Lời Chúa, khởi đi từ nhập lễ cho đến hết lời nguyện tín hữu;
– Hai là phụng vụ Thánh Thể, khởi đi từ việc chuẩn bị lễ vật cho đến hết lời nguyện hiệp lễ.
4. H. Bí tích Thánh Thể chính là tình yêu tự hiến của Đức Ki-tô nói lên điều gì?
T. Nói lên những điều này:
– Một là Thánh Thể hiện tại hoá hy tế thập giá để trao ban chính Mình Máu Chúa Ki-tô;
– Hai là Thánh Thể biểu lộ khát vọng gặp gỡ và hiện diện trọn vẹn với nhân loại của Người;
– Ba Thánh Thể là bảo chứng tình yêu cho đến cùng, đem lại ơn hiệp nhất và bảo đảm vinh quang vĩnh cửu.
5. H. Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh đời sống Ki-tô hữu nghĩa là gì?
T. Nghĩa là mọi bí tích, mọi thừa tác vụ và mọi hoạt động tông đồ, cũng như trọn vẹn đời sống Ki-tô hữu đều bắt nguồn và quy hướng về bí tích Thánh Thể, nơi chứa đựng toàn bộ của cải thiêng liêng của Hội Thánh là chính Đức Ki-tô.
6. H. Chúng ta sống bí tích Thánh Thể như là chóp đỉnh đời sống Ki-tô hữu thế nào?
T. Đó là quy hướng trọn vẹn cuộc sống, niềm vui, nỗi buồn, mọi hoạt động, kinh nguyện, việc tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, cũng như công ăn việc làm thường ngày, thành hiến lễ thiêng liêng kết hợp với hy lễ của Đức Ki-tô dâng lên Chúa Cha trong Thánh lễ, để phụng thờ Thiên Chúa và góp phần biến đổi con người nên giống Đức Ki-tô.
7. H. Chúng ta sống bí tích Thánh Thể như là nguồn mạch đời sống Ki-tô hữu thế nào?
T. Đó là kết hiệp mật thiết với Chúa Giê-su Thánh Thể, để kín múc nơi Người toàn bộ ân sủng cho đời sống thiêng liêng và sứ vụ tông đồ. Đồng thời, không ngừng dập khuôn đời sống thường ngày theo khuôn mẫu tình yêu Thánh Thể, và dấn thân đem Tin Mừng vào các trật tự trần thế.
Phần IV
SỐNG ĐỨC TIN – CON NGƯỜI MỚI TRONG ĐỨC Ki-tô
Bài 14. YÊU MẾN THIÊN CHÚA TRÊN HẾT MỌI SỰ
1. H. Chúa Giê-su dạy chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa thế nào?
T. Chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực chúng ta.
2. H. Lòng yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự bắt nguồn từ đâu?
T. Bắt nguồn từ lệnh truyền và tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta trước. Chính Ngài đã yêu thương chúng ta và đã ban Con Một là Đức Giê-su Ki-tô chịu chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi.
3. H. Đức Giê-su đã yêu mến Thiên Chúa thế nào?
T. Đức Giê-su đã yêu mến Thiên Chúa bằng sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha, qua việc hoàn toàn vâng phục thánh ý Ngài, luôn làm điều đẹp lòng Ngài, và hy sinh mạng sống trên thập giá làm của lễ dâng lên Chúa Cha.
4. H. Chúng ta phải thờ phượng Thiên Chúa thế nào?
T. Chúng ta phải tin kính, trông cậy và yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự. Đồng thời luôn ngợi khen, cảm tạ và tuyệt đối quy phục Ngài, không ngừng cầu nguyện và dâng hy lễ lên Thiên Chúa.
5. H. Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự đòi hỏi chúng ta phải có thái độ thế nào đối với các ngẫu tượng?
T. Chúng ta phải loại trừ mọi ngẫu tượng, không được tôn thờ hay kính bái bất cứ một ngẫu tượng nào, cho dù đấy là thần linh, ma quỷ, quyền lực, khoái lạc, tiền bạc, hay bất cứ thụ tạo nào khác.
6. H. Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự tác động thế nào tới các mối tương quan và các đam mê của chúng ta?
T. Khi đặt Thiên Chúa làm trung tâm và là chóp đỉnh của tình yêu, chúng ta sắp xếp lại trật tự mọi mối tương quan, mọi mối bận tâm, mọi của cải trần thế và cả những đam mê của chúng ta. Đó là con đường dẫn đến tự do đích thực và hạnh phúc viên mãn.
*********************
Bài 15. YÊU THƯƠNG BẢN THÂN MÌNH
1. H. Yêu thương bản thân mình là thế nào?
T.Đó là làm ba việc này:
– Một là ý thức, tôn trọng và bảo vệ phẩm giá cao quý của mình là hình ảnh Thiên Chúa;
– Hai là biết chọn và sống con đường hoàn thiện như Đức Ki-tô.
– Ba là chăm sóc toàn diện con người mình cả thể xác và tinh thần.
2. H. Đâu là nền tảng thúc bách chúng ta phải yêu thương bản thân mình?
T. Đó là tình yêu đi bước trước của Thiên Chúa và mẫu gương hoàn hảo của Đức Giê-su.
3. H. Đức Giê-su đã yêu thương bản thân Người thế nào?
T. Đức Giê-su luôn bảo vệ căn tính Thần Linh của mình, luôn kết hiệp mật thiết với Chúa Cha trong cầu nguyện, và hoàn toàn tự do dâng hiến mạng sống mình vì tình mến Chúa Cha và tình yêu nhân loại.
4. H. Chúng ta phải làm gì để tôn trọng và bảo vệ phẩm giá của mình?
T. Chúng ta phải hãnh diện mình là hình ảnh của Thiên Chúa, ăn ở xứng đáng với Tin Mừng của Đức Ki-tô, biết sử dụng tự do để nhận biết, yêu mến và đi vào hiệp thông với Thiên Chúa, và luôn sẵn sàng tự hiến chính mình cho Thiên Chúa và kế hoạch yêu thương của Ngài.
5. Để chọn và sống theo con đường hoàn thiện, chúng ta phải làm gì?
T. Chúng ta phải từ bỏ chính mình, bước theo con đường của Đức Ki-tô, sống trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và chuyên chăm thực hành điều thiện.
6. H. Để chăm sóc toàn diện con người mình, chúng ta phải làm gì?
T. Chúng ta phải đón nhận sự sống với lòng biết ơn, phải chăm sóc và gìn giữ sự sống thể lý và tinh thần bằng nhân đức tiết độ, để góp phần tôn vinh Thiên Chúa và để cứu độ linh hồn chúng ta.
7. H. Sống nhân đức tiết độ là thế nào?
T. Đó là điều tiết sức lôi cuốn của những thú vui, giữ sự chừng mực trong việc sử dụng của cải trần thế, làm chủ bản năng và kiềm chế các ham muốn.
*********************
Bài 16. YÊU THƯƠNG THA NHÂN
1. H. Thiên Chúa dạy chúng ta phải đối xử với tha nhân thế nào?
T. Chúng ta phải yêu thương tha nhân như chính mình.
2. H. Đâu là nguồn mạch của tình yêu tha nhân?
T. Tình yêu tha nhân bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu, chính Ngài đã yêu thương con người trước và truyền cho con người phải yêu thương nhau.
3. H. Đâu là sức mạnh và khuôn mẫu cho tình yêu đối với tha nhân?
T. Chúa Giê-su và tình yêu của Người là sức mạnh và là khuôn mẫu cho tình yêu tha nhân. Như chính Người đã phán:“Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 15,12)
4. H. Chúa Giê-su đã yêu thương tha nhân thế nào?
T. Chúa Giê-su đã yêu thương tha nhân bằng tình yêu vĩnh cửu Người đã nhận từ Chúa Cha. Người đã yêu đến cùng và đã hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho con người.
5. H. Theo gương Chúa Giê-su, chúng ta phải yêu thương tha nhân thế nào?
T. Chúng ta yêu tha nhân bằng tình yêu đã lãnh nhận từ Chúa Giê-su. Cũng như Người, chúng ta phải yêu mến cả kẻ thù, phải trở thành người lân cận cho những kẻ ở xa, phải yêu thương trẻ em, và người nghèo như chính Người.
6. H. Chúng ta trở nên người lân cận cho tha nhân là thế nào?
T. Chúng ta phải coi người lân cận, không trừ một ai, như cái tôi thứ hai của mình, phảibiết quan tâm đến sự sống của họ và những phương tiện cần thiết giúp họ sống xứng với nhân phẩm.
7. H. Để yêu thương tha nhân như Chúa đã yêu, trước tiên chúng ta phải làm gì?
T. Chúng ta phải ở lại trong tình yêu của Chúa. Đó là kết hiệp mật thiết với Chúa trong phụng vụ và cầu nguyện, là lắng nghe và tuân giữ điều răn của Người, để kín múc năng lượng yêu thương nơi Chúa, và bắt chước tình yêu của Người.
*******************
Bài 17. YÊU MẾN NGÔI NHÀ CHUNG
1. H. Chúng ta có liên hệ thế nào với vũ trụ này?
T. Vũ trụ là ngôi nhà chung của chúng ta, vì trong đó mọi thụ tạo đều có chung một Đấng Tạo Hoá, đều liên kết với nhau và sống chung dưới một mái nhà.
2. H. Thiên Chúa muốn chúng ta phải đối xử thế nào với ngôi nhà chung này?
T. Thiên Chúa ban tặng ngôi nhà chung như dấu chỉ tình thương và sự âu yếm vô tận của Ngài đối với chúng ta. Để qua việc canh tác và bảo vệ trái đất, chúng ta được nuôi dưỡng, hoàn thiện chính mình, nhận biết và chúc tụng Thiên Chúa.
3. H. Đâu là nền tảng của lòng yêu mến ngôi nhà chung?
T. Đó là tình yêu Thiên Chúa, Đấng dựng nên mọi loài trong tình yêu, muốn cho mọi loài được tham dự vào sự tốt lành của Ngài, và hằng yêu thương mọi loài hiện hữu.
4. H. Chúa Giê-su đã yêu mến ngôi nhà chung thế nào?
T. Chúa Giê-su đã sống hoà hợp trọn vẹn với ngôi nhà chung. Người đã mặc lấy thế giới thụ tạo cho đến tận cùng là cái chết trên thập giá, và đã kết hợp tất cả vũ trụ trong Người khi biến đổi bánh và rượu trở nên Thịt Máu Người.
5. H. Đâu là hậu quả đối với ngôi nhà chung khi con người phạm tội chối bỏ Thiên Chúa?
T. Đó là sự đổ vỡ trong mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, với tha nhân và với trái đất, dẫn đến tình trạng con người thay thế Thiên Chúa làm chủ trái đất, làm cho trái đất kêu gào vì sự lạm dụng và bóc lột của con người.
6. H. Chúng ta phải làm gì để yêu mến ngôi nhà chung?
T. Chúng ta phải hoán cải để nhận thức thế giới là một ân huệ của tình yêu Thiên Chúa, đồng thời, phải tôn trọng trật tự, vẻ đẹp và sự toàn vẹn của công trình tạo dựng, không ngừng dấn thân chăm sóc và bảo vệ ngôi nhà chung, và luôn kết hiệp với vũ trụ chúc tụng tôn vinh Thiên Chúa.
*****************
Phần V
CẦU NGUYỆN – HIỆP THÔNG THÂN TÌNH VỚI THIÊN CHÚA
Bài 18. CẦU NGUYỆN – TƯƠNG QUAN THÂN TÌNH VỚI THIÊN CHÚA
1. H. Chúng ta có tương quan thế nào với Thiên Chúa?
T. Nhờ Đức Ki-tô và qua bí tích Rửa tội, chúng ta được trở nên con Thiên Chúa, là chi thể trong thân thể Đức Ki-tô là Hội Thánh Người, nên có mối tương quan hiệp thông thân tình với Thiên Chúa.
2. H. Chúng ta biểu lộ mối tương quan thân tình với Thiên Chúa như thế nào?
T. Chúng ta tuyên xưng đức tin, cử hành mầu nhiệm đức tin, sống đời sống mới trong Chúa Ki-tô và cầu nguyện thân tình với Thiên Chúa.
3. H. Chúa Giê-su sống tương quan thân tình với Chúa Cha trong cầu nguyện thế nào?
T. Chúa Giê-su luôn kết hiệp mật thiết với Chúa Cha trong cầu nguyện, bằng tâm tình con thảo, bao hàm sự gắn bó đầy tình yêu với thánh ý Chúa Cha cho đến trọn vẹn trên thập giá.
4. H. Cầu nguyện là gì?
T. Cầu nguyện là sống mối tương quan sống động, cá vị và giao ước với Thiên Chúa hằng sống, là sự đáp lại khát khao của Thiên Chúa trong gặp gỡ và sự kết nối thân tình từ con tim.
5. H. Cầu nguyện là đáp lại sự khát khao của Thiên Chúa nghĩa là gì?
T. Nghĩa là Thiên Chúa luôn chủ động và đi bước trước. Ngài khát khao chúng ta khao khát Ngài, và lời cầu nguyện của chúng ta là tình yêu đáp lại nỗi khát khao của Thiên Chúa.
6. H. Cầu nguyện có ý nghĩa gì với đời sống Ki-tô hữu?
T. Cầu nguyện là một tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và con người trong Đức Ki-tô. Đó là hành động của Thiên Chúa và hành động của con người. Nên cầu nguyện là sức sống cho toàn bộ đời sống và sứ vụ Ki-tô hữu.
Bài 19. CẦU NGUYỆN – CUỘC BIẾN ĐỔI NỘI TÂM
1. H. Cầu nguyện tác động thế nào trên đời sống chúng ta?
T. Cầu nguyện giúp ta sống hiệp thông thân tình với Thiên Chúa, giúp biến đổi nội tâm và lối sống thường ngày của ta nên giống Đức Ki-tô.
2. H. Cầu nguyện giúp biến đổi nội tâm thế nào?
T. Cầu nguyện làm biến đổi tâm hồn chúng ta, làm ta bừng cháy lửa tin, cậy, và mến Chúa,nhất làlàm cho ta đón nhận thánh ý Chúa, và biến đổi ước muốn của ta nên giống ước muốn của Ngài.
3. H. Cầu nguyện giúp biến đổi lối sống thế nào?
T. Cầu nguyện làm biến đổi tâm hồn, dẫn đến biến đổi lời nói và lối sống, làm cho ta luôn hành động theo thánh ý Chúa.
4. H. Đức Giê-su được biến đổi thế nào qua cầu nguyện?
T. Qua cầu nguyện, trái tim nhân loại của Chúa Giê-su được biến đổi và tháp nhập trọn vẹn vào tình yêu và thánh ý của Chúa Cha. Trong đó, thần tính của Người được hiển dung, và ý chí nhân loại của Người hoàn toàn đón nhận cái chết như một hy tế đem lại ơn cứu độ cho con người.
5. Cầu nguyện giúp biến đổi nội tâm mời gọi chúng ta sống thế nào?
T. Chúng ta phải siêng năng và kiên trì trong cầu nguyện. Không nản lòng khi những ơn cầu xin chưa được trả lời. Nhưng luôn nhận ra sự biến đổi tâm hồn và lối sống là câu trả lời của Chúa cho những điều ta cầu xin.

