1. Sau 9 năm (2017), vì lý do dịch bệnh và nhiều lý do khác mà Đại hội Thánh Mẫu La Vang toàn quốc mới được tổ chức lại. Những ngày này, toàn thể Giáo Hội Công Giáo hân hoan mừng lễ Đức Maria Hồn Xác Về Trời, đặc biệt tại thánh địa La Vang, những ai có mặt ở đấy sẽ cảm nhận được tinh thần Giáo hội với sự hiện diện của mọi thành phần dân Chúa. Việc cùng lúc quy tục hàng trăm ngàn người về một nơi mà Đức Mẹ đã từng hiện ra để biểu lộ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa cho thấy sự lớn mạnh, hoành tráng mà dụ ngôn nắm men trong bột hoặc dụ ngôn hạt cải Đức Giêsu đã từng nói đến trong Tin Mừng là có thật. Tuy nhiên chắc chắn một điều, Đức Giêsu không chỉ muốn một Giáo hội quy tu như thế, mà Ngài còn muốn một Giáo hội “bung ra” để “đến với”. Đó cũng là điều được Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm chia sẻ trong Thánh Lễ bế mạc Đại hội Thánh Mẫu toàn quốc lần thứ 31 tại La Vang 9 năm trước: “Theo gương Đức Mẹ vội vã lên đường đem Chúa Giêsu và Tin Mừng đến cho gia đình bà Elisabeth, chúng ta hãy cất bước lên đường đem Chúa Giêsu và tình thương của Chúa đến cho mọi người. Và hãy bắt đầu từ chính gia đình mình, vì mỗi gia đình là một Hội Thánh tại gia”.
2. Sấm ngôn của Đức Chúa trong bài đọc thứ nhất đã cho biết: “Nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân” (Is 56, 7b). Như vậy, “nhà của Chúa” không dành riêng cho bất kỳ một cá nhân, một tập thể, hoặc một nhóm người nào, mà cho “muôn dân”, cho tất cả mọi người. Chúng ta còn nhớ biến cố Đức Giêsu đánh đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ Giêrusalem trong Tin mừng Gioan 2, 13-22. Một trong những nguyên nhân là vì khu vực dành cho dân ngoại bị người ta lấn chiếm để buôn bán, gây nên cảnh ồn ào, bát nháo khiến những người dân ngoại thành tâm không thể cầu nguyện được. Vì vậy, thái độ của Đức Giêsu cho chúng ta thấy tấm lòng của Ngài đối với dân ngoại.
Sau cuộc tranh luận về “sạch” và “dơ” với các kinh sư và biệt phái, “Đức Giêsu lui về miền Tia và Xiđon” (Mt 15, 21), ngày nay ở phía nam của nước Liban, là vùng giáp ranh với đất của dân ngoại. Matthêu cố tình làm cho tình hình tệ hại hơn, khi ông tường thuật: “Thì này có một người đàn bà Canaan, ở vùng ấy đi ra, kêu lên rằng: “Lạy Ngài là Con vua Đavit, xin dủ lòng thương tôi!” (Mt 15, 22). Canaan là vùng đất ngày xưa người Do Thái đã đánh chiếm làm lãnh thổ của mình, giữa họ có mối thù truyền kiếp. Vì vậy, người phụ nữ này thuộc hạng “dân ngoại”, thuộc loại “dơ” mà người Do Thái coi khinh như một “con chó”.
Một người có nguồn gốc, có thân phận như thế lại mang trong mình một niềm tin mãnh liệt vào Đức Giêsu. “Lạy Ngài là Con vua Đavit, xin dủ lòng thương tôi… Lạy Ngài xin cứu giúp tôi!” Nó xuất phát từ tấm lòng mẫu tử dành cho đứa con gái bị quỷ ám. Có lẽ bà cũng đã đi khắp nơi, tìm mọi cách để chữa trị cho đứa con gái của mình, nhưng không hiệu nghiệm. Và cũng có lẽ quyền năng và danh tiếng của Đức Giêsu không chỉ đồn ra trong dân Do Thái, mà cả dân ngoại, vì chắc chắn đã nhiều lần Đức Giêsu đoái hoài đến họ là hạng người bị người Do Thái khinh bỉ, loại trừ. Những lời van xin của bà ta chắc chắn đã đụng chạm đến lòng thương xót, đến trái tim nhân hậu của Ngài, nhưng Ngài vẫn giữ phong cách của người Do Thái đối với dân ngoại “không đáp một lời nào”. Hơn thế nữa, Đức Giêsu còn nói trắng ra: “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con” (Mt 15, 26). Câu trả lời của bà cho chúng ta thấy bà đã xác quyết niềm tin một cách vững chắc vào Đức Giêsu, dù như thế nào bà cũng không bỏ cuộc: “Thưa Ngài, nhưng những con chó nhỏ cũng được ăn những miếng bánh vụn rơi xuống từ bàn ăn của chủ” (Mt 15, 27). Bà nhìn nhận quyền ưu tuyển của người Do Thái, họ là “chủ”, còn bà là “dân ngoại”, bà chỉ xin một “miếng bánh vụn”, nghĩa là một chút ơn, chút lòng, dù nhỏ nhặt nhưng cũng đủ cứu sống con gái bà ta. Đức Giêsu đã đáp ứng nhu cầu của người đàn bà ngoại giáo vì “lòng tin của bà mạnh thật!” (Mt 15, 28a).
3. Đức Giêsu đã đến để mặc khải một vì Thiên Chúa không giới hạn tình yêu thương. Và Ngài thành lập Giáo hội để thể hiện tình yêu thương đó. Vì thế, Giáo hội của Đức Giêsu phải là Giáo hội đến với mọi người, nhưng nhất là những người cùng khổ.
Gia đình là Hội thánh tại gia. Ơn gọi của gia đình là tham dự vào sứ mạng của Hội thánh. Cho nên từng người, từng gia đình phải biết mở cửa ra để đến với mọi người, nhất là những người cùng khổ.
Việc “mở ra” chỉ có hiệu quả khi bản thân chúng ta đã có kinh nghiệm được “tiếp nhận”. Với thân phận con người, chúng ta nhiều lần rơi vào “cùng khổ”, nghĩa là cái khổ đến tận cùng, nhưng Chúa đã “tiếp nhận” để “mở ra” cho chúng ta con đường sống.
Ở nhà tĩnh tâm hướng thiện La Vang của Đan viện Thiên An, Huế có một Linh mục đạo đức, thánh thiện, dễ gần gũi với những người sa ngã, lầm lạc, nên khi đến đây, họ cảm nhận được tình yêu thương của Chúa, và khi trở về, họ thực sự “hướng thiện””. Ít ai biết được linh mục đó có một quá khứ chẳng mấy tốt đẹp, thậm chí là lẫy lừng trong giới ăn chơi ở Thành phố Vinh, Nghệ An. Trong bài viết về Cha của các bạn sinh viên Công giáo Huế có đoạn: “Sống trong một xã hội của một thành phố Vinh nổi tiếng chất chứa nhiều cạm bẫy, nhiều sự lôi kéo vào con đường ăn chơi, hưởng thụ. Cũng yếu đuối, cũng nông nổi, cũng ham muốn như bao người trẻ khác, hơn nữa, trong cảnh đầy đủ và thành công ban đầu dễ khiến Trần An bị cuốn vào vòng xoáy của lớp thanh niên đương thời. Ăn chơi, tiêu phá hết tất cả những gì đã gầy dựng. Sa vào bất mãn và mong muốn gỡ lại những gì nhận từ phụ mẫu. Trần An đã sai lại càng thêm sai. Chán nản, buồn bã Trần An lại càng lâm vào vui chơi hoang đàng, sa đọa trong men đắng tình trường, trong nghiện ngập chích hút. Cuộc đời và những người bạn xấu đã đẩyTrần An đến việc lỗi phạm đức công bằng, đưa Trần An đến chỗ thân tàn ma dại và ra vào vòng lao lý.”. Chính cha thì bộc bạch trong đoạn thơ:
“Giữa cuộc đời tha hương lữ thứ
Tôi đi tìm lạc thú niềm say
Khi cuộc tình khi chén rượu cay
Khi quân bài hay khi khói thuốc…
Bỗng đâu chiếc còng người cảnh sát
Dẫn tôi đi vào chốn quạnh hiu”
Thế nhưng, tình yêu của người mẹ, lời cầu nguyện và nước mắt của bà, cũng như chương trình của Chúa dành cho cậu thật quá ư vĩ đại. Được thức tỉnh và muốn làm vui lòng cha mẹ, Trần An đã được gửi đến Đan viện Thiên An để tĩnh tâm, để cai nghiện. Trải qua bao thăng trầm của một cuộc sống thật quá ư xa lạ, Trần An đã thành công và còn dâng hiến đời mình cho Chúa. Chàng muốn dâng cả thân xác và linh hồn mình để một đời thân mật với Chúa, đáp lại ân huệ yêu thương mà Chúa đã dành. Để rồi, bây giờ không ai không biết đến một vị linh mục mang cái tên rất đỗi thân thương và chứa đựng nhiều ý nghĩa: Phanxicô Trần An hay thường gọi là “Tràn Ân”. Cha tiếp tục tự bạch trong bài thơ:
Con xin cảm tạ Chúa nguồn yêu
Đã thương ban tặng biết bao điều
Từ vũng bùn nhơ Ngài thánh hiến
Đưa về chung sống bến “Trời yêu”
Khi đã có kinh nghiệm được “đón nhận” thì người ta sẽ rất dễ “mở ra” để “đón nhận” người khác.
Mỗi người hãy lấy kinh nghiệm được Chúa và người khác đón nhận chẳng những một mà rất nhiều cơ hội thế nào, để biết “mở ra”, đến với mọi người, nhất là những người yếu kém, lầm lạc.
Và mỗi khi có lâm vào cảnh khốn cùng, hãy biết bắt chước người đàn bà Canaan để kêu xin Chúa: “Lạy Ngài xin cứu giúp con!”
Đừng bao giờ thất vọng khi mang trong mình thân phận “ngoại bang”, bị xếp loại “dơ” giống như người đàn bà Canaan, vì Chúa sẽ đụng chạm, chữa lành tất cả nếu chúng ta tin vào Ngài.
Và cũng đừng bao giờ đối xử gian ác với người khác, nhất là những người “dơ” trong cái nhìn của chúng ta, vì họ chính là hình ảnh của chúng ta ; nhiều khi chúng ta còn “dơ” hơn họ, vậy mà Chúa cũng đã đụng chạm đến chúng ta, còn chúng ta thì lại “chận đứng” họ bằng việc chê bai, xét đoán và loại trừ.
Lạy Đức Mẹ La Vang, xin cho chúng con biết vội vã lên đường như Mẹ để chia sẻ niềm vui ơn cứu độ. Lên đường để tiếp nối một Giáo hội mở ra mà Thầy Giêsu đã mở trước, một Giáo hội dám “chứa chấp” những hạng người “chẳng ra gì”, để họ cảm nhận được lòng thương xót của Chúa.

