Cuộc đời có những lúc vui lúc buồn, nhưng sáng nay sao buồn quá, vì tôi vừa nhận tin ông cố Kỳ – thân phụ cha Kha – đã được Chúa gọi về. Lòng tôi chùng xuống trong một nỗi bùi ngùi và xúc động sâu xa.
Hình ảnh về ông cố đến với tôi từ những năm tháng dự tu 1995. Khi chuẩn bị đến lộ 19 dự tu, bố tôi nói: đi dự tu ở nhà thờ lộ 19 bố có biết hai gia đình người quen, họ đàng hoàng tốt lắm, rảnh thì qua thăm, đó là gia đình ông bà đại úy Kỳ và gia đình đại úy Kiên, họ rất tử tế, đàng hoàng và đáng kính. Ba tôi còn nói vui: nếu sau này hai người con đều trở thành linh mục, thì ông bà sẽ là “ông bà cố kép” – một niềm vinh dự không phải gia đình nào cũng có được.
Không ngờ, khi tôi bước vào đời sống dự tu (1995), tôi lại được học chung với anh Kha – người con của ông bà. Dù vào dự tu sau, nhưng tôi học anh văn bằng C chung lớp với anh. Hàng ngày vẫn được quá giang anh chở bằng xe honda đi học. Một mối dây liên kết thật nhẹ nhàng mà sâu sắc hình thành từ đó. Tôi có dịp lui tới nhà ông bà cố nhiều hơn, và chính nơi đây, tôi cảm nhận được một vẻ đẹp rất âm thầm của đời sống Kitô hữu.
Ông bà cố sống hiền lành, chậm rãi, đầy nhân hậu. Ngày nào cũng đi lễ, sống đều đặn, bình dị. Những buổi chiều rảnh, chúng tôi thường ghé qua, có khi chỉ để chơi vài ván domino, có khi chỉ để ngồi nghe ông bà kể chuyện, có khi ông bà nấu món này kia ngon kêu mấy chú dự tu ghé qua ăn, biết mấy chú nghèo xa quê gia đình nên ông bà thương lắm. Những lời mời đơn sơ bình dân: “Thằng Minh ở lại ăn cơm luôn” – giản dị thôi, nhưng ấm áp đến lạ. Có những bữa tôi ở lại, có những lần tôi vội về, nhưng tình nghĩa thì luôn còn đó.
Điều khiến tôi ấn tượng sâu sắc là dù có con cái thành đạt, có người dâng mình cho Chúa trong thiên chức linh mục, ông bà vẫn chọn sống một đời rất đỗi đơn sơ. Ngôi nhà nhỏ cấp bốn bên cạnh nhà thờ gần như không thay đổi theo năm tháng. Ông bà tự tay trồng rau, nuôi gà, để cải thiện bữa cơm đạm bạc nhưng đầy tình yêu thương.Tôi cứ tưởng người giàu phải ăn sang lắm, nhưng ông bà ăn uống rất ít và đơn sơ. Một sự giản dị không phải vì thiếu thốn, mà vì đã chọn sống như thế.
Cũng chính trong ngôi nhà bé nhỏ chật hẹp đó, nhưng có một tấm lòng rộng lớn của ông bà, vào thời buổi khó khăn những năm của thập kỷ 90, ông bà cơi nới sửa sang mở phòng cho các chú dự tu qua ở, và từ ngôi nhà này, có rất nhiều anh em dự tu chúng tôi giờ đã là Linh mục.
Qua năm tháng, tôi càng nhận ra sự lớn lao nơi cách ông bà dưỡng dục gia đình. Trong hoàn cảnh khó khăn sau năm 1975, ông bà vốn dĩ là sĩ quan không giỏi về làm ăn kinh tế, nhưng ông bà lao động cần mẫn và chăm chỉ, nuôi dạy 10 người con nên người, sống có nề nếp, biết vâng lời và yêu thương nhau. Một gia đình có được sự hòa thuận và trưởng thành như thế chắc chắn phải bắt nguồn từ một nền tảng đức tin vững chắc và một đời sống gương mẫu âm thầm của cha mẹ.
Một hình ảnh không bao giờ phai trong tôi là anh Kha – dù đã lớn – vẫn luôn khoanh tay, cúi đầu thưa ba mẹ mỗi khi đi và về: “Thưa ba má, con đi học… thưa ba má, con mới học về.” Một cử chỉ nhỏ, nhưng là kết tinh của cả một nền giáo dục gia đình. Và hôm nay, khi ông cố đã ra đi, tôi chợt nghĩ: từ nay sẽ không còn lời “thưa ba má” trọn vẹn nữa, mà chỉ còn thưa mỗi má con mới về, và còn lại là một nỗi nhớ âm thầm trong trái tim đang đau nhói.
Tôi còn nhớ ngày lễ mở tay của anh Kha tại nhà thờ lộ 19, anh có nhờ tôi dẫn lễ. Cuối lễ tôi hoàn toàn bất ngờ khi thấy anh nghẹn ngào bật khóc trong lời tri ân cha mẹ, tôi khi ấy còn rất trẻ đã thật sự ngỡ ngàng. Một con người mạnh mẽ là thế, nhưng trước công lao trời biển của đấng sinh thành, lại trở nên bé nhỏ và mong manh. Giây phút ấy, tôi hiểu rằng: tình cha mẹ là điều không thể đo đếm.
Tôi cũng không thể quên mối nghĩa tình sâu đậm giữa ông bà cố và các linh mục, cách riêng là cha Tự. Từ những gắn bó trong quá khứ trước 1975 – khi cha còn là tuyên úy, ông cố là sĩ quan – cho đến việc ông góp phần đưa phương tiện đến dựng tượng Đức Mẹ tại Rạch Súc năm xưa, một tình thân bền chặt đã được hình thành. Cha Tự kể, tượng Đức Mẹ này là do ông cố Kỳ dẫn một tiểu đội công binh dùng xe cần cẩu dựng Đức Mẹ lên đó, công lao ông cố lớn lắm. Và cũng chẳng biết từ bao lâu, cha Tự luôn đến thăm và chúc Tết ông bà cố. Còn cha Khiêm ở xa về không hè nào là không lên thăm cha Tự và làm lễ Đức Mẹ. Một nghĩa tình thủy chung, âm thầm nhưng bền bỉ theo năm tháng. Giờ đây, khi cả hai đã lần lượt về với Chúa, tôi tin rằng họ lại được gặp nhau trong niềm vui đoàn tụ nơi quê trời.
Giờ đây, khi ngồi viết những dòng này, lòng tôi bồi hồi khôn tả. Tôi ước mình có thể hiện diện giữa dòng người tiễn đưa ông cố, nhưng vì ở xa quê, tôi chỉ biết hướng lòng về trong hiệp thông.
“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.”
Xin ông cố an nghỉ bình an trong Chúa;
Và xin ông cầu bầu cho chúng con.

