Nhân dịp Giáo hội Việt Nam sắp có thêm một Chân phước là Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (1897-1946), tôi đọc lại một số sử liệu liên quan tới Cha Diệp. Việc này càng có ý nghĩa hơn trong bối cảnh năm Mục vụ 2025-2026 của Giáo hội Việt Nam: “Mỗi Kitô hữu là một nhà thừa sai: ‘Anh em hãy là ánh sáng muôn dân’” (Mt 5,14).
Một trong những tài liệu tôi đọc là tài liệu chính thức về quá trình điều tra tuyên phong Chân phước cho cho Tôi tớ Chúa Trương Bửu Diệp của Giáo phận Cần Thơ, đã được Tòa thánh Vatican chuẩn nhận[1]. Qua đó, tôi nhận thấy cuộc sống, nhân cách, ơn gọi và sứ mạng của Cha Diệp là một mẫu thức cho các nhà thừa sai hôm nay tại Việt Nam. Từ ngài, chúng ta có thể học được một phương pháp truyền giáo rất gần gũi và thiết thực.
Qua lời kể của các nhân chứng trong tài liệu trên[2], tôi nhận thấy một đặc nét truyền giáo nổi bật của Cha Diệp là: ở lại và đi ra. Ngài chọn ở lại giữa dân. Ngài không nhốt mình trong nhà xứ, nhưng luôn sải chân đi ra để gặp gỡ dân, bất kể họ là ai. Nét đẹp của sự “ở lại” ấy mang đậm hình ảnh của một mục tử sẵn sàng “vác lấy mùi chiên”. Ngài không bỏ chiên để tháo chạy giữa chiến tranh và bắt bớ, giữa thù nghịch và bách hại, giữa đói khổ và hoạn nạn.
Việc “đi ra” các “biên cương mới” của Cha Diệp cũng rất phong phú. Ngài thăm viếng và giúp đỡ người nghèo khổ, đau bệnh, già yếu, v.v... Ngài không phân biệt lương giáo. Cha Diệp cũng không chỉ lo mục vụ ở Tắc Sậy, nhưng thường xuyên đi tới các giáo điểm xa xôi và gặp gỡ lương dân. Ngài chịu hao tổn sức lực cho sứ vụ linh mục. Ngài chọn một cuộc sống giản dị, gần dân và sống như dân. Ngài đi xuồng hoặc đạp xe tới các giáo điểm để cử hành các bí tích và thăm viếng những gia đình chưa biết Chúa.
Qua một vài hình ảnh trên, tôi nhận thấy Cha Diệp là mẫu “môn đệ truyền giáo” thật sự của Chúa Kitô. Ngài chọn sống giữa dân nghèo và chọn lối sống giản dị, mang âm hưởng của đức khó nghèo Tin mừng. Cha Diệp sống nghèo thật (x. Lc 6,20) và nghèo trong tinh thần (x. Mt 5,3). Ngài chọn đứng về phía dân nghèo, sống và chết cho họ. Ngài chọn đi ra các vùng ngoại vi mà không ngại đối diện với hiểm nguy. Ngài không tìm kiếm sự an nhàn hoặc nghỉ ngơi, nhưng dấn thân cho dẫu có hao mòn về sức khỏe.
Ngài trở nên một hiện thân sống động của Chúa Kitô, một “Kitô thứ hai”, alter Christus. Ngài sống triệt để căn tính linh mục của mình. Nghĩa là ngài dành toàn tâm trí để chăm sóc con chiên. Ngài không an phận, không “cắm dùi một chỗ”, cũng chẳng quản ngại đi mở mang bờ cõi Nước Chúa. Ngài đến và ở lại, nhưng cũng sẵn sàng đi ra. Ngài ở lại để đồng cam cộng khổ với dân, bất kể lương giáo. Ngài hòa nhịp sống với họ, vui vẻ với chính quyền, hòa đồng với người lính, nhưng không hòa tan vào chính trị. Ngài ý thức bản thân là mục tử, là người chăm sóc linh hồn cho các con chiên, là môn đệ truyền giáo của Chúa Kitô. Vì thế, ngài đi ra các biên cương mới để rao giảng Lời Chúa cho dân. Ngài thực sự vừa là chứng nhân, vừa là thầy dạy[3].
Có lẽ Giáo hội Việt Nam hôm nay rất cần mẫu gương truyền giáo của Cha Diệp. Từ nhiều năm nay, Cha Diệp không chỉ được nhìn nhận là một mẫu gương sống đạo cho thời đại này. Trong tâm khảm của nhiều người dân Tắc Sậy, Cha Diệp đã là một vị thánh, một mẫu môn đệ truyền giáo lý tưởng của Chúa Kitô. Ngài dùng cả tính mạng để làm chứng cho Tin mừng. Ngài là một mục tử sẵn lòng vác lấy mùi chiên, sống chết vì chiên, và luôn đi phía trước. Ngài không khác gì vị mục tử Giêsu mà thánh Gioan đã khắc họa cách đây hai ngàn năm: “Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh” (Ga 10,4).
Hình ảnh ấy cũng gợi lại kinh nghiệm của Thánh Phaolô: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Hr 4,15).
Hình ảnh của Cha Diệp và cách truyền giáo của ngài rất thân thương, gần gũi với các vị mục tử đang sống ở vùng đất của người dân tộc thiểu số và người Tây Nam Bộ tại Việt Nam. Các ngài cũng sống giữa dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho dân. Các ngài sẵn sàng đi thăm viếng để thấu cảm và sẻ chia những khổ đau, nhọc nhằn của dân. Các ngài đứng về phía dân nghèo để bảo vệ đức tin và thăng tiến công bằng cho họ. Đồng thời, các ngài luôn có cùng cảm thức với Giáo hội (sentire cum Ecclesia), qua việc bảo vệ tài sản của Giáo hội, yêu mến hòa bình, phản đối chiến tranh cũng như bất công xã hội.
Từ đó, tôi cũng nhận thấy sứ mạng truyền giáo vừa là thách đố, vừa là một thực tại sống động và cuốn hút. Sứ mạng ấy sẽ trổ sinh hoa trái khi các nhà thừa sai ý thức sâu xa và xác tín về căn tính, ơn gọi và sứ mạng của mình. Nhờ đó, họ có thể toàn tâm tận lực thực hiện lệnh truyền hệ trọng của Chúa Phục Sinh: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo” (x. Mc 16,15).
Truyền giáo không đơn thuần chỉ là chu toàn việc cử hành các bí tích, sống tốt, làm việc thiện lương, v.v.. Truyền giáo cũng không chỉ là tập trung soạn bài, viết bài để giảng dạy trong các chủng viện, học viện, trường học. Truyền giáo còn là sống thực tế. Đó là có kinh nghiệm đi ra để gặp gỡ những mảnh đời và số phận, những linh hồn đang lạc hướng, những tâm hồn bị mê muội, và cả những vùng ngoại vi về văn hóa, tri thức, thiêng liêng, địa lý.
Truyền giáo không chỉ là một môn học, như “Missiology”. Truyền giáo còn cần được trải nghiệm bằng chính những bước chân được sai đi để làm chứng và rao giảng Lời Chúa. Đó là giúp người chưa biết Chúa được biết Ngài. Đó là giúp người đang lung lay đức tin được khôi phục lại. Đó là giúp người lầm đường lạc hướng biết quay về nẻo chính đường ngay. Đó là giúp người xa rời Hội thánh hiểu, yêu mến và gắn bó với Hội thánh hơn. Tất cả những điều ấy cần được thực hiện bằng những cách thức mới mẻ, phù hợp với thời đại và với khả năng Chúa ban.
Tự thân “truyền giáo” (missio) là lên đường, là đi ra: Ite, missa est. Truyền giáo không phải là đi vào, càng không phải là giới hạn hoặc cô lập bản thân trong một không gian nhỏ hẹp.
Nếu một tu sĩ chỉ ước ao được chịu chức thánh để trở thành cha xứ, trông coi những giáo xứ tiện nghi và giàu có, được cung phụng và chiều chuộng, thì ai sẽ sẵn sàng đi ra những nơi còn thiếu thốn? Ai sẽ đến những nơi thiếu nhà thờ, nhà nguyện, thiếu đời sống vật chất, thiếu miếng cơm manh áo? Ai sẽ đến với những người bị gạt ra bên lề xã hội và chịu đối xử bất công?
Nếu một cha xứ luôn muốn được ở xứ giàu, né tránh sống tại các giáo điểm, cảm thấy tủi thân khi được điều tới những nơi nghèo khổ, lạc hậu và thiếu an toàn, thì có khác gì những quan xã ước ao được lên huyện, rồi trở thành quan tỉnh?
Hơn thế nữa, Giáo hội và xã hội hôm nay đề cao sự cộng tác, nhất là khi nhân sự ngày càng ít. Giáo hội cũng đề cao vai trò của giáo hữu[4]. Vì thế, để “mỗi Kitô hữu là một nhà thừa sai”, chính các mục tử phải là nhà thừa sai trước. Các ngài phải là những người có kinh nghiệm sống truyền giáo trên các “cánh đồng đang vào mùa gặt”. Từ đó, các ngài có thể hình thành nên một linh đạo truyền giáo “đi ra” (go forth), như Tông huấn Niềm vui Tin mừng mời gọi (x. EG 20-25).
Từ kinh nghiệm ấy, các mục tử tập hợp đàn chiên. Các ngài chọn lựa những con chiên có khả năng sống và làm việc ở tiền tuyến. Các ngài huấn luyện họ cách đặc biệt, trang bị cho họ những tri thức và kỹ năng truyền giáo, cùng với những điều kiện tối thiểu để đi ra phía trước. Nhờ đó, họ có thể cộng tác với các mục tử để đi gặt lúa. Khi trở về, họ được “vai nặng gánh lúa vàng” (x. Tv 125,6).
Thực thế, nếu làm được điều này, qua gương truyền giáo của Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, các mục tử hôm nay không chỉ là nhà truyền giáo, mà còn là người có khả năng đồng hành và huấn luyện các giáo hữu. Nhờ đó, Giáo hội Việt Nam sẽ có thêm nhiều thợ gặt lành nghề, phục vụ cho cánh đồng lúa chín được bội thu.
Mong lắm thay!
Pleiku, Lễ Chúa Chiên Lành 2026
Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ
Trưởng Ban Loan báo Tin mừng Dòng Tên
[1] Giáo phận Cần Thơ, Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (1897-1946) - Cuộc đời, nhân cách, sự nghiệp, cái chết và ý nghĩa cho ngày nay, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/linh-muc-phanxico-xavier-truong-buu-diep-1897-1946---cuoc-doi-nhan-cach-su-nghiep-cai-chet-va-y-nghia-cho-ngay-nay
[2] x. Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc, Con Sóc Trên Tàu Dừa - Cuộc đời Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, Đồng Nai, 2026, tr. 210-220.
[3] Tông huấn Evangelii Nuntiandi của thánh Giáo hoàng Phaolô VI, số 41.
[4] x. Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem của Công đồng Vatican II, ban hành ngày 18/11/1965.

